Sunday, 17 September 2017

Words and their stories 12. Book

Chào các bạn! Chúng ta lại gặp nhau trong chuyên mục học tiếng Anh qua các câu chuyện. Hôm nay tôi sẽ chia sẻ với các bạn những câu chuyện xung quanh chữ “book”.

Từ nhỏ tôi đã đam mê đọc sách và đọc bất cứ thứ gì mà tôi cầm trên tay dù đó là tờ giấy báo gói xôi. Lúc tôi còn nhỏ, gia đình tôi có kinh tế rất khó khăn nên cũng rất ít khi được mua sách và cũng chẳng ai định hướng gì về con đường học hành cho tôi. Tôi tự tìm thấy niềm vui khi được đọc cái gì đó nên cố gắng tận dụng hết sách vở cũ mà nhà tôi có. Trong tiếng Anh, chúng ta có từ “bookworm” (con mọt sách) để chỉ ai đó đam mê đọc sách và giành nhiều thời gian để đọc. Ngoài ra, chúng ta cũng có cụm “a big reader” cũng chỉ người nào đọc sách nhiều. Ví dụ, “My brother is a true big reader” (Anh trai tôi đúng là người đọc nhiều sách).
 
Inside A Book Coffee Shop in Tay Ninh City
Tôi nhớ khi học khoảng lớp 4 hay lớp 5 gì đó, anh Hai tôi mượn ở đâu được quyển truyện Tam Quốc diễn nghĩa và hai anh em tôi đọc suốt ngày. Trong tiếng Anh, có cụm từ “a page turner” để chỉ những quyển sách rất hay mà chúng ta muốn đọc liên tục. Ví dụ, “The book “I am Malala” by Malala is a real page turner” (Quyển “Tôi là Malala” của Malala đúng là một quyển sách hay).        Ít lâu sau, anh của tôi lại tiếp tục mượn được của ai đó quyển “Thủy Hử- 108 anh hùng Lương Sơn Bạc”. Hai anh em tôi rất thích đọc quyển này. 

Tuy nhiên, một hôm, ba của tôi đi làm về thấy anh em tôi ngồi đọc quyển Thủy Hử thì ông giận dữ la rầy chúng tôi rất nhiều và hỏi “Thế tụi bây muốn thành ăn trộm, ăn cướp hay sao mà đọc quyển này!?”. Hai anh em tôi chẳng hiểu gì sao mà ba của chúng lại nổi nóng như thế khi chúng tôi đọc quyển này, nhưng khi thấy ông giận dữ quá cũng rất sợ và đem trả sách cho người ta. 
 
Inside A Book Coffee Shop in Tay Ninh City
Sau đó, tôi chuyển sang đọc tiểu thuyết ngôn tình, đọc say mê và nhập tâm, nhiều lúc cũng khóc, cười theo nhân vật. Tôi đọc rất nhiều về chủ đề này và nhiều khi chẳng thèm ăn cơm nước gì dù cho mẹ tôi có kêu giục như thế nào. Rồi tôi đọc thơ của Hàn Mặc Tử, thơ của Giang Nam, tiểu thuyết “Hồn bướm mơ tiên” của Khái Hưng, đọc gần như tất cả về Lục Vân Tiên, truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn và hầu như thuộc lòng các câu thơ này, đọc những câu chuyện về lịch sử như quyển “Sống như anh” nói về Nguyễn Văn Trỗi, sách về chiến tranh chống Pol Pốt, sách về lịch sử văn hóa, truyền thuyết Núi Bà Đen, truyện cười, vân vân và vân vân. 

Nói chung tôi rất thích đọc và đọc tất cả những gì tôi gặp và mỗi khi tôi cầm quyển sách lên đọc là sẽ đọc rất say sưa, rất khó để tôi bỏ quyển sách xuống. Trong tiếng Anh có cụm từ “can’t put it down” (không thể bỏ xuống). Và khi không thể “put it down” thì tôi cố gắng đọc cho hết quyển sách, bất kể giờ giấc nào, mưa hay nắng. Trong tiếng Anh, ta có cụm từ “to read from cover to cover” (đọc từ trang đầu đến trang cuối, đọc cho hết quyển sách). Ví dụ, “I am interested in the book titled “Animal Farm” by George Orwell. It is a true page turner. You know every time I pick it up to read, honestly I can’t put it down. Then, I’m gonna try to read it from cover to cover”. 
 
Inside A Book Coffee Shop in Tay Ninh City
Sau này lên khoảng lớp 9 hay lớp 10, tôi được ba mẹ cho tiền bỏ túi đi học và tôi luôn để dành số tiền đó để mua sách đọc. Tôi hay thường lân la đến những cửa hàng sách cũ ngay góc ngã tư Bách Hóa ở thị xã mà bây giờ là tòa nhà của Sở Tư Pháp, đối diện với doanh trại quân đội. Ở đó có nhiều quyển sách cũ rất hay được bán với giá rẻ như cho. Cũng tại đó tôi bắt đầu mua sách tiếng Anh cũ về học, chẳng hạn như quyển “English 900” và nhiều giáo trình tiếng Anh trước giải phóng. Những quyển sách này đã cũ, ngã sang màu nâu đen, nhưng với tôi chúng thật có giá trị. 

Sau này, khi ra trường có việc làm và có thu nhập, tôi lại càng mua sách nhiều hơn. Nhiều khi thấy sách hay, thích thì mua chứ cũng không đọc hết. Tính ra cũng lãng phí, nhưng nếu thấy chúng hay mà không mua thì tôi không cầm lòng được, và sẽ ăn cơm chẳng ngon. Tôi giữ thói quen đọc sách thường xuyên đến bây giờ dù đôi lúc bận rộn, tôi cũng hơi xao nhãng việc đọc sách. 

Tôi nhớ nhất là những lúc mùa đông ở London, mặc áo ấm ngồi bên lò sưởi (central heating: lò sưởi điện) để đọc sách, ngay trên bàn là ly trà nóng còn vươn khói. Thỉnh thoảng ngước nhìn lên xem tuyết rơi bên ngoài cửa sổ, cảm thấy bình yên đến lạ. 

Bây giờ chúng ta có nhiều chủng loại sách hơn, đa dạng các đề tài hơn và sách được in đẹp hơn với chất liệu cũng tốt hơn rất nhiều so với những quyển sách cũ mà tôi mua cách đây hơn 20 năm. Những quyển sách nào có bìa giấy bình thường như đa số sách hiện nay trên thị trường thì tiếng Anh ta dùng từ “paperback book” hoặc thỉnh thoảng dùng “soft-cover/softback book” (sách bìa giấy thường/mềm). Còn những quyển nào có bìa cứng, dày hơn, thường là nặng hơn thì gọi là “Hardback book”, “hardbound book” (Sách bìa cứng). Ngoài ra, ta còn có từ “e-book” hay “electronic book” (sách điện tử) để chỉ sách được số hóa và chúng ta phải dùng “E-reader” (máy đọc sách điện tử, nhìn cũng khá giống Ipad vậy đó các bạn nhé).
 
Inside A Book Coffee Shop in Tay Ninh City
Ngoài ra, ta có nhiều cụm từ có sử dụng từ “book” nhưng chúng hầu như chẳng liên quan gì nhiều đến quyển sách (book) cả. Khi đã xác định đi du học, các bạn cần phải chú ý đến các quy định về cách viết bài, trích dẫn và hạn nộp bài. Đó là bởi vì dù Thầy cô ở nước ngoài nhiệt tình và thấu hiểu hoàn cảnh của các bạn như thế nào thì họ cũng sẽ không châm chước cho bất kỳ một sự chậm trễ hay đạo văn nào. Trong tiếng Anh, chúng ta có cụm từ “by the book” (làm theo đúng hướng dẫn, quy định). Nếu các bạn nộp trễ hạn sẽ bị trừ điểm tùy theo trễ bao lâu, còn nếu các bạn đạo văn thì đây là một lỗi cực kỳ nặng, nhiều khi sẽ bị đuổi học. Ví dụ, “the teacher asked us to write an assignment by the book” (Thầy bảo chúng ta phải viết bài theo đúng quy định).

Nói như thế không có nghĩa là tất cả sinh viên nước ngoài hay quốc tế đều là những người tử tế, học hành nghiêm túc cả. Vẫn có một số bạn vì lý do gì đó vẫn không thể “by the books” trong quá trình học tập nên phải tìm mọi cách để vượt qua bài kiểm tra, thi cử, luận văn, chẳng hạn thuê người khác viết bài dùm. Trong tiếng Anh, nếu ai đó dùng mọi phương pháp, kể cả thủ đoạn để đạt được mục đích của mình, chúng ta dùng cụm từ “every trick in the book”. Ví dụ, “he used every trick in the book to pass the final exam.”

Việc kết bạn trong quá trình du học cũng cực kỳ quan trọng với sinh viên quốc tế vì các bạn sẽ bớt nhớ nhà và hòa nhập nhanh với môi trường mới. Khi các bạn cởi mở, hòa đồng thì sẽ nhanh có nhiều bạn, việc bạn bè thấu hiểu nhau sẽ giúp ích rất nhiều trong quá trình học tập và sinh sống ở xứ người.
Trong tiếng Anh, ta có cụm từ “an open book” được dùng để nói lên việc dễ dàng thấu hiểu ai đó cũng giống như việc tôi viết nhiều câu chuyện của bản thân lên đây, các bạn đọc xong sẽ hiểu hết về suy nghĩ, tư tưởng của tôi. Ví dụ như, “After I shared with you my personal stories on this blog, my life is like an open book to the public” (Ai cũng biết hết mọi thứ về bản thân tôi sau khi tôi chia sẽ những câu chuyện cá nhân lên trang cá nhân này). Còn ngược lại, nếu một ai đó hoặc điều gì đó bí hiểm, các bạn không thể hiểu được thì dùng cụm từ “a closed book” để diễn tả. Ví dụ: “Well, I’ve given up. Mr Elmer is actually a closed book to me” (Thôi, tôi bỏ cuộc rồi. Ông Elmer sao mà bí hiểm quá”.

Khi các bạn hiểu rõ về bản thân tôi tức là các bạn có thể “read somebody like a book”. Cụm từ này được dùng để nói lên việc mình hiểu rõ những suy nghĩ hay cảm xúc của người khác. Though he kept quiet, I could read him like a book (Dù anh ta im lặng, tôi vẫn hiểu được ý anh ta muốn gì).
Ngoài ra, trong tiếng Anh, chúng ta còn có một cụm từ khác là “cook the books” (thay đổi sổ sách, chứng từ, biển thủ tiền, nhất là trong lĩnh vực tài chính kế toán). Ví dụ, it is rumoured that he can afford luxury goods because he has cooked the books for many years (Người ta đồn rằng anh ta có thể mua mấy thứ sang trọng là gì anh ta biển thủ tiền trong nhiều năm qua).

Câu chuyện cũng dài rồi phải không các bạn, ta ôn lại các từ, cụm từ liên quan nhé.
-          A bookworm / a big reader
-          A pager turner
-          Can’t put the book down
-          Read the book from cover to cover
-          Paperback / softback book
-          Hardback / hardcover book
-          E-book / electronic book / e-reader
-          By the books
-          Every trick in the book
-          An open book
-          A closed book
-          Read somebody like a book
-          Cook the books

Wednesday, 13 September 2017

Những câu trích dẫn hay về nghề giáo

Mới đầu năm đầu tháng mà có quá nhiều thông tin không vui về giáo dục chẳng hạn như học sinh miền núi ngồi xổm trên sân trường ướt mưa làm lễ khai giảng trong khi lãnh đạo tỉnh xin tiền xây tượng đài, tình trạng lạm thu trong trường học và mới đây nhất, một giáo viên ở Bình Liêu, Quảng Ninh xin nghỉ việc vì dạy quá xa nhà và lương không đủ sống.
Source: Internet
Để cùng các bạn nào còn vương mang nghiệp giáo dục, tôi trích đăng vài câu trích dẫn về nghề giáo và giáo viên. Hy vọng các bạn vẫn còn lửa đam mê. Dạy ở đâu cũng được nhưng phải bằng cái tâm và đam mê nha các bạn.


1. “A teacher takes a Hand, opens a Mind and touches a Heart”.

2. “The influence of a good teacher can never be erased”

3.“Good teachers know how to bring out the best in students” (Charles Kuralt)

4. “A good TEACHER is like a candle – it consumes itself to LIGHT  the way for others”

5. “The best teachers teach from the HEART, not from the BOOK”
Source: Internet
6. “Teachers who love teaching, teach children to love learning”

7. “The only real valid reason to go into teaching is that you want to make a difference in the lives of your students” (Anne Jenks)

8. “To the world, you may be just a TEACHER but to your students, you are a HERO”

9. “Good teachers are the reason why ordinary students dream to do extraordinary things”

10. “Good teachers know that sometimes you have to stop and just be silly for a few minutes”

(Nguồn/Source: Internet)

Tuesday, 12 September 2017

Words and their stories 11: LEG

Chào mừng các bạn quay lại với chuyên mục Học tiếng Anh qua các câu chuyện. Bài học hôm nay sẽ xoay quanh từ “Leg” (cái chân) trong tiếng Anh nhé.

“Legs” (hai chân) là phần thân dưới của cơ thể (base of the body). Chúng giúp nâng đở cơ thể chúng ta và giữ thăng bằng, cũng như làm phương tiện di chuyển (a way to move from place to place). Trong tiếng Anh có rất nhiều cụm từ hay đi kèm với “legs” đó các bạn nhé.
 
Nguồn Internet
Nếu một người nào đó nói hoặc đưa ý kiến về một vấn đề gì một cách thiếu cơ sở, không dẫn chứng rõ ràng thì chúng ta dùng cụm “have no legs to stand on” (thiếu cơ sở, bằng chứng). Các bạn có biết không, cụm từ này có lịch sử sử dụng gần 500 năm thôi hà!
 
Cụm từ này cũng có thể được dùng trong các phiên tranh luận trong tòa. Luật sư này có thể nói luật sư kia “have no legs to stand on” vì người kia không đưa ra được chứng cứ thuyết phục. 

Ngoài ra trong tiếng Anh, các bạn thỉnh thoảng sẽ nghe cụm từ “to have a leg up” (có lợi thế). Cụm từ này cũng có ý nghĩa tích cực, dùng để chỉ việc ai đó có lợi thế hơn người khác về việc gì. Ví dụ, khi các bạn đi xin việc mà hồ sơ của các bạn có rất nhiều bằng cấp chuyên môn, nhiều năm kinh nghiệm làm cùng công việc và giỏi ngoại ngữ thì các bạn đang thật sự “have a leg up” vì so với ứng viên khác, bạn vô cùng nổi bật (outstanding).

Có một cụm từ khác sử dụng từ “leg” để nói lên giá cả của một món hàng nào đó quá cao, quá đắt đỏ đến mức các bạn phải mất cả một cánh tay và chân mới mua được, “Cost an arm and a leg” (quá đắt đỏ). Ví dụ: The new computer costs me an arm and a leg”.

Hôm trước Elmer có đưa một bức hình lên Facebook nói rằng Núi Bà Đen nay thay đổi đẹp quá, làm nhiều bạn bè bán tín bán nghi, nghĩ là tôi nói thật, trong khi bức hình đó chụp ở Kyoto, Nhật Bản. Trong tiếng Anh, nếu bạn muốn chọc ghẹo ai cho vui, cố thuyết phục ai đó tin vào điều không có thật thì các bạn dùng cụm từ “pull someone’s leg” nhé (chọc ghẹo ai cho vui). Ví dụ, “If you bought a cheap T-shirt, then told your friend that you paid an arm and a leg for it, you would be “pulling his leg”. 

Trong tiếng Anh, còn có một cụm từ khác có sử dụng từ “leg” đó là “on your last legs” (rất mệt mỏi). Nếu bạn bị “on your last legs” thì việc nên làm là ngồi nghỉ mệt một chút trước khi tiếp tục đi hoặc làm việc gì. Ví dụ, “Walking around the British Museum for several hours, I said to my best friend that I was on  my last legs and could not take any further steps.”

Cụm từ này còn được dùng để nói về tình hình kinh doanh của một doanh nghiệp nào đó. Nếu bạn nghe ai đó nói, “That company is on its last legs because its financial situation is so bad that it is about to fail.”, tức là tình hình làm ăn  của công ty đó bết lắm rồi, tình hình tài chính quá tệ sắp phải đóng cửa rồi.

Ngoài ra, còn có cụm từ “shake a leg” (nhanh lên đi). Nếu bạn kêu ai đó “shake a leg” tức là bạn kêu họ nhanh lên (ask him to hurry). 

Các bạn có biết nghĩa của thành ngữ “break a leg” không nè? Nghĩa đen của nó là “làm gãy chân” đấy. Nghe đến “break a leg” thì ai cũng lo lắng hết phải không nè. Tuy nhiên, cụm từ “break a leg” còn có nghĩa bóng là “chúc may mắn” nữa đó, cũng giống như “Good luck” vậy đó các bạn. Ví dụ, Well, you’re going to take the final test today. Break a leg!”. Thành ngữ lần đầu tiên được sử dụng cách đây khoảng gần 80 năm rồi đó các bạn. Khi đó, những người nghệ sĩ thường được bạn bè chúc may mắn trước khi ra biểu diễn, nhưng vì sợ xui xẻo nên không dám chúc điều tốt lành mà phải dùng những cụm từ không hay như thế. Kiểu như con nhà ai khó nuôi thì đặt tên nghe rất là xấu vậy đó.

Nào bây giờ các bạn xem lại những thành ngữ liên quan nhé.

-          Have no legs to stand on
-          Have a leg up
-          Cost an arm and a leg
-          Pull someone’s leg
-          On your last legs
-          Shake a leg
-          Break a leg!
(Dịch và Viết theo VOA)

Sunday, 10 September 2017

Sự đa dạng của ngôn ngữ trong các bản dịch "Thư của Mark gửi cho con gái vừa chào đời"

Dạo một vòng trên internet đọc những bản dịch lá thư mới nhất của Mark Zuckerberg, ông chủ facebook viết cho con gái thứ 2 vừa chào đời. Tôi nhận thấy rằng những bản dịch này khác nhau một cách thú vị!
Nguồn Internet
 Tôi trích hai đoạn ngắn sau đây trong thư của Mark và một số bài dịch trên các trang mạng để các bạn thấy sự đa dạng trong cách dịch thuật từ nhiều gốc độ, cảm nhận và cách sử dụng ngôn từ rất khác nhau của những người dịch lá thư này.

Mình thích nhất là cách sử dụng danh xưng mà các tác giả sử dụng khi dịch lời của Mark với con gái của mình “Ta”, “Cha”, “Bố mẹ” và nhiều từ khác trong các bản dịch khác. Ngôn ngữ thật là phong phú phải không các bạn?

Mai mốt dịch danh xưng của ba mẹ nói với con chắc dùng từ "Tía", "Má" , "Thầy", "U" quá. Còn từ nào nữa không hả các bạn?

Còn nhiều bản dịch khác trên các trang tin khác nữa, các bạn có thể tìm hiểu thêm nhé.

Trích thư của Mark:
“You will be busy when you're older, so I hope you take time to smell all the flowers and put all the leaves you want in your bucket now. I hope you read your favorite Dr. Seuss books so many times you start inventing your own stories about the Vipper of Vipp.
….
Childhood is magical. You only get to be a child once, so don't spend it worrying too much about the future. You've got us for that, and we'll do everything we possibly can to make sure the world is a better place for you and all children in your generation”.
Hết trích

Những bản dịch trên internet:
1.      Trên trang News.zing: bài dịch của Đức Nam
“Con sẽ bận rộn khi lớn lên. Ta kỳ vọng con sẽ dành thời gian để ngửi mọi bông hoa trong vườn, đặt mọi chiếc lá vào chiếc túi bé nhỏ của mình. Ta kỳ vọng con sẽ đọc cuốn sách yêu thích của mình càng nhiều lần càng tốt, để có thể tạo ra những câu chuyện của riêng mình.
…..
Tuổi thơ là thứ gì đó thần kỳ. Con chỉ có thể trải qua một lần. Do đó, đừng lo nghĩ quá nhiều về tương lai. Đó là thứ chúng ta lo. Chúng ta sẽ làm mọi thứ có thể để biến thế giới này tốt đẹp hơn cho con và mọi đứa trẻ ở thế hệ của con.’

2.      Trang vn.express, bài dịch của Nguyễn Giang
“Con sẽ rất bận rộn khi trưởng thành nên cha hy vọng con hãy tận dụng thời gian để hít hà mùi hương của những bông hoa và đặt những chiếc lá con muốn vào trong làn. Cha hy vọng con đọc được cuốn sách yêu thích nhiều lần và còn có thể bắt đầu sáng tác chuyện của riêng mình.
….
Tuổi thơ đầy màu nhiệm. Con chỉ có một lần làm trẻ con mà thôi, bởi vậy đừng quá lo lắng về tương lai. Hãy để phần việc đó cho cha mẹ và chúng ta sẽ làm mọi điều có thể để mang đến cho con cùng những em nhỏ khác một thế giới tốt đẹp”

3.      Trang Báo Mới, bài dịch của Bảo Linh
…Tuổi thơ rất kỳ diệu. Con chỉ có thể làm trẻ em một lần duy nhất, vì vậy hãy sống với tuổi thơ và đừng lo lắng quá nhiều về tương lai. …

4.      Cũng của Trang Báo Mới, bài dịch của Bảo Lâm
“Con sẽ bận rộn hơn khi con trưởng thành. Vậy nên bố mẹ muốn con dành thời gian tận hưởng hương thơm của những đóa hoa và cất thật nhiều những chiếc lá vào túi của con. Những việc lớn đã có bố mẹ lo.
…….
Tuổi thơ của con là một phép màu. Con chỉ có phép màu đó một lần trong đời. Vì vậy đừng lo lắng về tương lai nhiều quá.” 

5.      Trang ngoisao.net, bài dịch Tùng Anh
“Con sẽ bận rộn khi con lớn hơn, vì vậy cha mẹ hy vọng con dành thời gian để ngửi mùi tất cả các loài hoa và đặt tất cả những chiếc lá con muốn vào trong một chiếc thùng của con từ bây giờ. Cha hy vọng con sẽ đọc cuốn sách Dr. Seuss rất nhiều lần và bắt đầu sáng tạo ra những câu chuyện của riêng con.
…
Thời thơ ấu là một thứ nhiệm màu. Con chỉ có thể là trẻ con một lần, nên không cần phải quá lo lắng về tương lai. Con đã có cha mẹ rồi, và chúng ta sẽ làm tất cả mọi thứ mà bọn ta có thể để đảm bảo thế giới nơi con và tất cả trẻ em trong thế hệ của con được sống tốt hơn.”
Hết trích

Nguồn tham khảo: